Bệnh thận mãn tính và triệu chứng nguy hiểm

Người ta thấy rằng, khi số lượng nephron chức năng giảm 75% thì mức lọc cầu thận giảm 50% so với mức bình thường, lúc này mới bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của bệnh thận mãn tính. Quá trình tiến triển của bệnh từ khi có bệnh thận đến khi suy thận giai đoạn cuối trung bình là 10 năm, cũng có thể chỉ 5 năm hoặc sau 20 năm

Chẩn đoán.

1. Chẩn đoán xác định:

+ Các triệu chứng rất có giá trị để chẩn đoán bệnh thận mãn tính:
– Tăng urê máu >3 tháng.
– Có hội chứng tăng urê máu kéo dài (khi không xác định được thời gian tăng urê máu).
– Mức lọc cầu thận giảm ≤ 60ml/phút, kéo dài > 3 tháng.
– Kích thước thận giảm đều hoặc không đều cả 2 bên.

Bệnh thận mãn tính

Bệnh thận mãn tính

– Trụ nước tiểu to (2/3 số lượng trụ có đường kính >2 lần đường kính 1 bạch cầu đa nhân trung tính).
+ Các triệu chứng hay gặp nhưng ít giá trị để chẩn đoán bệnh thận mãn tính:
– Có tiền sử bệnh thận-tiết niệu.
– Thiếu máu, tăng huyết áp, phù.
– Protein niệu, hồng cầu niệu, bạch cầu niệu, vi khuẩn niệu.

2. Chẩn đoán nguyên nhân:

+ Bệnh cầu thận mạn.
+ Viêm thận-bể thận mạn.
+ Bệnh thận do luput, do đái tháo đường…
+ Bệnh mạch máu thận.
+ Bệnh thận bẩm sinh, di truyền.
7.3. Chẩn đoán giai đoạn: theo bảng 1.
7.4. Chẩn đoán biến chứng: biến chứng tim mạch, tiêu hoá, thần kinh…
7.5. Chẩn đoán phân biệt: trong đợt tiến triển nặng lên của bệnh thận mãn tính cần chẩn
đoán phân biệt với suy thận cấp.

Điều trị bệnh thận mãn tính

Không thể điều trị khỏi được bệnh thận mãn tính. Mục đích của điều trị là phòng và ngăn chặn các đợt tiến triển nặng lên của suy thận; làm chậm tiến triển và kéo dài thời gian ổn định của suy thận; điều chỉnh các rối loạn nội môi. Trong đợt tiến triển nặng lên và khi suy thận giai đoạn cuối phải điều trị bằng các biện pháp thay thế thận để bảo vệ bệnh nhân và đưa bệnh nhân về gần với cuộc sống của người bình thường.

Xét nghiệm.

+ Xét nghiệm nước tiểu:
– Số lượng nước tiểu: bệnh nhân có triệu chứng đi tiểu đêm, số lượng nước tiểu ban đêm thường nhiều hơn ban ngày. Trong bệnh thận mãn tính, thông thường bệnh nhân vẫn giữ được lượng nước tiểu 500-800ml/24giờ cho đến khi suy thận giai đoạn IV. Trong đợt tiến triển nặng lên, lượng nước tiểu ít đi và có thể có vô niệu. Nếu suy thận do viêm thận-bể thận mạn thì bệnh nhân thường đái nhiều, lượng nước tiểu thường >1,5 lít/24giờ và thường đi đái
đêm.
– Protein niệu bao giờ cũng có: nếu do bệnh cầu thận thì thông thường protein niệu 2- 3g/24giờ khi suy thận còn nhẹ; suy thận nặng (giai đoạn IV) thì lượng protein niệu ít đi, chỉ khoảng 1g/24giờ. Nếu do viêm thận-bể thận mạn thì lượng protein niệu thường thấp, chỉ khoảng 1g/24giờ. Nếu còn hội chứng thận hư thì protein niệu nhiều ≥ 3,5g/24giờ.
– Hồng cầu niệu: thường có hồng cầu vi thể, nhưng đến suy thận giai đoạn IV thường không có hồng cầu niệu.
– Bạch cầu niệu và vi khuẩn niệu: khi suy thận do viêm thận-bể thận mạn thì có thể có bạch cầu niệu nhiều và có thể có vi khuẩn niệu.
– Trụ niệu: có thể thấy trụ hạt hoặc trụ trong, trụ có kích thước to (đường kính trụ > 2 lần
đường kính của 1 bạch cầu đa nhân trung tính), khi thấy 2/3 số lượng trụ có kích thước to là dấu hiệu rất có giá trị để chẩn đoán bệnh thận mãn tính.
– Urê, creatinin niệu thấp: suy thận càng nặng thì urrê và creatinin niệu càng thấp.
– Tỉ trọng và độ thẩm thấu nước tiểu: ở bệnh nhân bệnh thận mãn tính thì tỉ trọng nước tiểu và
độ thẩm thấu nước tiểu thấp. Khi suy thận nặng (giai đoạn III, giai đoạn IV) thì có đồng tỷ trọng nước tiểu thấp giữa các mẫu nước tiểu trong ngày và có trị số khoảng 1,010; độ thẩm
thấu nước tiểu khoảng 300mOsm/kg. Nếu do viêm thận-bể thận mạn thì tỉ trọng và độ thẩm thấu nước tiểu thấp ngay từ khi urê và creatinin máu chưa tăng.

Xem thêm: http://chuabenhthan.info/soi-than-co-di-truyen-khong-va-co-the-chua-khoi-hoan-toan-khong/

You may also like...

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *